Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là một quyển sách khuyến thiện đệ nhất trong kho tàng kinh điển của Đạo gia, được Ấn Quang Đại Sư hết sức tán thán. Ấn Quang Đại Sư một đời cung kính ấn tống “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” ước khoảng có hơn ba triệu bản. Hơn nữa Lý Bỉnh Nam cư sĩ, Tịnh Không Lão Pháp Sư cũng đều khích lệ thế nhân “Khuyến đọc, khuyến hành, khuyến in, khuyến giảng”. Quyển sách này cùng với Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh là ba căn bản của Nho-Thích-Đạo, bất luận là ai cũng phải từ ba căn bản này mà học tập vun bồi cọi rễ, như thế mới có thể đạt được thành tựu chân thật trong một đời.
CHƯƠNG 6 CHƯ ÁC (PHẦN HẠ) 埋蠱厭人 Mai cổ yếm nhân Dùng bùa ngải tà thuật Yểm chú hãm hại người Tội nghiệt ấy tày trời Đời sau đọa địa ngục. 用藥殺樹 Dụng dược sát thụ. Thực vật như động vật Đều cũng có tánh linh Ta phải biết yêu thương Không mặc tình dẫm đạp. Trăm năm cây cổ thụ Hấp tinh hoa đất trời Phun thuốc diệt cây rồi Tâm từ bị tổn mất. 恚怒師傅 Khuể nộ sư phó. Với lời thầy răn dạy Không cung kính tiếp thu Mà giận quá hóa thù Đấy là phường bất tiếu[1]. 抵觸父兄 Để xúc phụ huynh. Bất hiếu với cha mẹ Xung đột với người trên Ngỗ nghịch chẳng nể tình Người trời đều trừng phạt. 強取強求. Cưỡng thủ cưỡng cầu. Tâm ỷ mạnh hiếp yếu Cưỡng đoạt tài vật người. Bất chấp lý và tình Chính là phường cướp bóc. 好侵好奪, 擄掠致富 Háo xâm háo đoạt, lỗ lược trí phú. Kẻ tham danh hám lợi Chỉ muốn đoạt của người Để có được giàu sang Cướp người hòng đoạt của. 巧詐求遷, 賞罰不平 Xảo trá cầu thiên, thưởng phạt bất bình. Dùng thủ đoạn xảo trá Mong thăng tiến chức quan Khi được tước vọng rồi Thưởng phạt không công chính. 逸樂過節 Dật lạc quá tiết. Phóng dật và hưởng lạc Quá độ sẽ sinh bi Lộc tận thì nhân vong Phước chớ nên hưởng hết. 荷虐其下 Hà ngược kỳ hạ. Đối người hầu, cấp dưới Chớ ngược đãi bạo hành Lời ân cần khuyên dạy Họ không dễ phản mình. 恐嚇於他 Khủng hách ư tha. Người gặp lúc sợ lo Ta an ủi vỗ về Chớ thừa cơ khủng bố Nhân đức thảy còn đâu! 怨天尤人 Oán thiên vưu nhân. Gặp việc không như ý Chớ oán trời trách người Phước phận mỏng nơi mình Do nhân xưa đã tạo. 呵風罵雨 Ha phong mạ vũ. Tiết trời xấu hoặc tốt Mưa thuận hay gió hòa Ắt do ở tâm ta Chớ oán mưa giận gió. 鬥合爭訟 Đấu hợp tranh tụng. Gây tạo chuyện thị phi[2] Để hai bên thưa kiện Mình đứng giữa trục lợi Trời cao ắt khó dung. 妄逐朋黨 Vọng trục bằng đảng. Mưu mô lập băng đảng Mong nước loạn tranh quyền Đâu hay xã tắc biến Nhà mình cũng chẳng yên. 用妻妾語違父母訓 Dụng thê thiếp ngữ vi phụ mẫu huấn. Nghe lời của thê thiếp Như mật ngọt rót tai Lời cha mẹ dạy ta Lại mặc tình làm trái Phận làm con lỗi đạo Sao tránh khỏi tai ương! 得新忘故 Đắc tân vong cố. Bạn hữu thuở hàn vi Giữ vẹn tình sau trước Nghĩa tào khang chung thủy Có trăng chớ quên đèn. 口是心非 Khẩu thị tâm phi. Quân tử và tiểu nhân Hình dung tuy chẳng khác Khác ở chỗ dụng tâm Quang minh hay ám muội. Người quân tử chính trực Lời nói để lợi người Miệng Phật mang tâm xà Là tiểu nhân gian ác. 貪冒於財, 欺罔其上 Tham mạo ư tài, khi võng kỳ thượng. Thân làm quan phụ mẫu Bóc lột nhũng nhiễu dân Dối gạt đến quân vương Lưới trời e khó thoát. 造作惡語 Tạo tác ác ngữ. Miệng người dễ phạm lỗi Ác khẩu bịa đặt lời Lưỡi ác nghiệt hại người Không xương như dao sắc. 讒毀平人, 毀人稱直, 罵神稱正, Sàm hủy bình nhân, hủy nhân xưng trực, mạ thần xưng chính. Hủy báng và hại người Lại cho mình chính trực. Mạo phạm cả thần linh Tự nhận mình ngay thẳng. 棄順效逆, 背親向疏 Khí thuận hiệu nghịch, bối thân hướng sơ. Bỏ thuận đi theo nghịch Trái đạo lý luân thường Cốt nhục chẳng hề thương Với người thì hậu hỹ. 指天地以證鄙懷, 引神明而鑒猥事. Chỉ thiên địa dĩ chứng bỉ hoài, dẫn thần minh nhi giám ổi sự. Tâm tính chuyện trái, sai Thân làm chuyện tồi tệ Còn cầu trời và thần Chứng giám cho việc đó. Đã ôm lòng bất chính Đất trời nào chứng cho. 施與後悔, 假借不還 Thí dữ hậu hối, giả tá bất hoàn. Bố thí cho người rồi Lòng lại sinh hối hận. Mượn tài vật không trả Đời sau đội sừng đền. 分外營求, 力上施設 Phận ngoại doanh cầu, lực thượng thi thiết. Người không biết an phận Hướng ngoại vọng tâm cầu Đâu hay vạn pháp kia Thảy đều do tâm tạo. 淫欲過度 Dâm dục quá độ. Kẻ dâm dục quá độ Tinh khí thảy đều suy Sinh con ra ngu đần Còn tổn thương âm đức. 心毒貌慈 Tâm độc mạo từ. Lòng dạ vốn nham hiểm Ngoài mặt giả hiền từ Khác nào loài hổ lang Độc thua gì rắn rết. 穢食餧人 Uế thực ủy nhân. Thức ăn không tinh sạch Gây mầm bệnh cho người Nếu tặng hoặc bán đi Hại người mình tổn đức. 左道惑眾 Tả đạo hoặc chúng. Dùng bàng môn tà đạo Yêu thuật mê hoặc người Luật trời ắt khó dung Chết đọa ba đường khổ. 短尺狹度, 輕秤小升, 以偽雜真, 採取姦利 Đoản xích hiệp độ, khinh xứng tiểu thăng. Dĩ ngụy tạp chân, thải thủ gian lợi. Kẻ buôn gian bán thiếu Làm hàng giả gạt người Tạm chiếm tiện nghi thôi Âm Ty định sẵn tội. 壓良為賤, 謾驀愚人 Áp lương vi tiện, mạn mạch ngu nhân. Ép bức người lương thiện Làm kỹ nữ thanh lâu Dùng kế hiểm mưu sâu Lừa người dân khờ khạo. Tội ấy trái thiên đạo Chết nào thoát ba đường. 貪婪無厭 Tham lam vô yếm. Dục vốn là hố sâu Kẻ tham không biết chán Tội lớn bởi nhiều dục Họa lớn do đa cầu. 咒詛求直 Chú trớ cầu trực. Chứng minh mình vô tội Cầu phần thắng cho mình Đối trước đấng thần minh Thề láo mình ngay thẳng. 嗜酒悖亂 Thị tửu bội loạn. Đức Phật chế năm giới Rượu là giới sau cùng Người ham mê rượu thịt Khó tránh sát, đạo, dâm. 骨肉忿爭 Cốt nhục phẫn tranh. Huynh đệ như tay chân Gà cùng chung một mẹ Môi hở thì răng lạnh Sao nỡ giận, tranh nhau! 男不忠良,女不柔順,不和其室,不敬其夫 Nam bất trung lương, nữ bất nhu thuận, bất hòa kỳ thất, bất kính kỳ phu. Trai bất trung bất nghĩa Gái chẳng kính thuận chồng Gia đình không hòa khí Gia đạo chẳng thể hưng! 每好矜誇,常行妒忌 Mỗi háo căng khoa, thuờng hành đố kỵ. Quẻ Khiêm trong Kinh Dịch Sáu hào đều cát tường Người kiêu căng, đố kỵ Không phải bậc hiền lương. 無行於妻子,失禮於舅姑 Vô hạnh ư thê tử, thất lễ ư cữu cô. Làm chồng thiếu đức hạnh Phụ bạc nghĩa vợ chồng Làm vợ lại vô nghì Cha mẹ chồng chẳng kính. 輕慢先靈 Khinh mạn tiên linh. Khâm liệm không như lễ Cúng tế chẳng chí thành Tổ tiên dù đã khuất Anh linh vẫn thường quanh. 違逆上命 Vi nghịch thượng mệnh. Lệnh của mẹ cha ban Cùng lời thầy cô dạy Là muốn ta nên người Tránh không làm nghịch ý. 作為無益 Tác vi vô ích. Đời người vốn ngắn tạm Nên biết việc cần làm Sống làm điều vô ích Uổng một kiếp nhân gian. 懷挾外心 Hoài hiệp ngoại tâm. Đã ôm lòng dối gạt Đâu cần đợi thân làm Vừa khởi tâm động niệm Tội đã ghi rõ ràng. 自咒咒他 Tự chú chú tha. Thường tự mình thề thốt Nguyền mình và rủa người Dù thọ mạng chưa hết. Ác báo sắp đến rồi. 偏憎偏愛 Thiên tăng thiên ái. Nếu có lòng thiên lệch Yêu ghét chẳng công bằng Dễ tạo sai lầm lớn Bất hòa với người thân. 越井越灶, 跳食跳人 Việt tỉnh việt táo, khiêu thực khiêu nhân. Không bước qua giếng, bếp. Giếng vốn có vị Thần Bếp có ngài Táo Quân Xin chớ có mạn khinh. Với thức ăn cũng vậy Không thể dẫm đạp lên Thân hình người cũng thế Chân không đặt lên trên. 損子墮胎 Tổn tử đọa thai. Hổ lang tuy hung dữ Chẳng ăn thịt con mình Phá thai và giết trẻ Cốt nhục chớ đoạn tình. 行多隱僻 Hành đa ẩn tích. Gian trá và tà dâm Là hành vi ám muội Dù làm trong phòng tối Mắt Thần vẫn sáng soi. 晦臘歌舞 Hối lạp ca vũ. Cuối tháng và Ngũ Lạp[3] Thiên Thần kiểm lỗi lầm Dương gian nên tránh việc Ca múa động nhân tâm. 朔旦號怒 Sóc đán hào nộ. Than khóc và phẫn nộ Vốn là việc không nên Tránh đầu tháng đầu năm Hoặc bình minh buổi sớm. 對北涕唾及溺 Đối bắc thế thóa cập niệu. Hướng Bắc có sao Đẩu Nơi ngự của thần linh Chớ hướng về phương này Khạc nhổ, đại tiểu tiện. 對灶吟詠及哭, 又以灶火燒香, 穢柴作食 Đối táo ngâm vịnh cập khốc, hựu dĩ táo hỏa thiêu hương, uế sài tác thực. Bếp nhà có TáoThần Giám sát tội lỗi người Không khóc, vịnh, xướng ca Đốt hương trên bếp lửa Củi bẩn không tinh khiết Không được dùng nấu ăn. 夜起裸露 Dạ khởi lõa lộ Thần Dạ Du ban đêm Đi tuần tra khảo sát Ăn mặc phải kín đáo Ngủ không để lõa lồ. 八節行刑 Bát tiết hành hình. Vào những ngày Bát Tiết[4] Trai giới, chuyên làm lành Tránh không được hành hình Và tạo thêm nghiệp sát. 唾流星, 指紅霓, 輒指三光, 久視日月 Thóa lưu tinh, chỉ hồng nghê, triếp chỉ tam quang, cửu thị nhật nguyệt. Trong vũ trụ bao la Đều có thần cai quản Tỏ lòng thành cung kính Tránh làm các việc sau: Khạc nhổ hướng sao băng Tay chỉ trỏ cầu vồng Chỉ nhật, nguyệt, tinh tú Chăm chú nhìn mặt trăng. 春月燎獵 Xuân nguyệt liệu liệp. Xuân về vạn vật sinh Kiêng tránh việc đốt rừng Săn bắn là tội ác Hại muôn loài sinh linh. 對北惡罵 Đối bắc ác mạ. Tâm có điều phẫn nộ Phát tiết thóa mạ người Hướng phương Bắc trút giận Thần Bắc Đẩu trên trời. 無故殺龜打蛇 Cô cố sát quy đả xà. Chớ vô duyên vô cớ Giết hại rắn và rùa Sinh mạng phải trân quý Cẩn trọng chớ sát thương. Ý kiến bạn đọc