Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký

Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký
發起菩薩殊勝志樂經講記
Chủ giảng: Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Chỉnh lý: Cư sĩ Truyền Tịnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

 

Chương 39: 10. Lược nói hý luận có hai mươi loại lỗi lớn.

Tiếp theo đây là một đoạn nữa, lược nói hý luận có hai mươi loại lầm lỗi.


 

Chánh kinh:

Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

- Thế Tôn! Như Lai thiện thuyết sơ nghiệp Bồ Tát nhạo ư hội náo, thế thoại, thùy miên, chúng vụ quá thất.

爾時。彌勒菩薩白佛言。世尊。如來善說。初業菩薩。樂於憒鬧。世話。睡眠。眾務過失。

(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai khéo nói lầm lỗi của hàng sơ nghiệp Bồ Tát ưa thích ồn náo, ngôn luận thế gian, ngủ nghê, các việc)


 

Mấy câu này nhằm tổng kết những điều đức Thế Tôn đã giảng. Trong thời kỳ Mạt Pháp, Bồ Tát sơ phát tâm ưa thích những điều ấy, những điều ấy đều là sai trái, vô lượng lầm lỗi, nhưng còn lỗi hại của hý luận đức Phật chưa nói, bởi thế, ở đây Ngài phải hỏi:


 

Chánh kinh:

Vân hà danh vi hý luận trung quá? Nhược quán sát thời, linh chư Bồ Tát đương đắc trụ ư tịch tĩnh, vô chư tránh luận.

云何名為。戲論中過。若觀察時。令諸菩薩。當得住於寂靜。無諸諍論。

(Thế nào gọi là lỗi của hý luận? Nếu lúc quán sát sẽ khiến cho các Bồ Tát trụ trong tịch tĩnh, không có các tranh cãi).


 

Nếu như đối với lỗi lầm của hý luận mà họ minh bạch, nhất định sẽ bỏ được hý luận, an trụ nơi tịch tĩnh, không tranh cãi, điều đó tương ứng với đạo tâm và thanh tịnh tâm. Tiếp theo đây, đức Thế Tôn khai thị:


 

Chánh kinh:

Phật ngôn:

- Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát hý luận quá thất vô lượng vô biên, ngã kim lược thuyết hữu nhị thập chủng. Vân hà danh vi nhị thập chủng quá?

佛言彌勒。初業菩薩。戲論過失。無量無邊。我今略說。有二十種。云何名為。二十種過。

(Phật nói:

- Này Di Lặc! Lỗi lầm hý luận của sơ nghiệp Bồ Tát vô lượng vô biên, ta nay nói đại lược có hai mươi thứ. Thế nào gọi là hai mươi thứ lỗi?)


 

Hai chữ “hý luận” (戲論) bao hàm ý nghĩa rất sâu, rất rộng, nói đơn giản là [những lời lẽ] chẳng có ý nghĩa chân thật; thậm chí đối với pháp thế gian hoàn toàn chẳng có lợi ích chân thật, những ngôn ngữ, luận thuyết như thế đều gọi là “hý luận”. Phật quy nạp chúng thành hai mươi loại.


 

Chánh kinh:

Nhất giả, ư hiện tại sanh đa chư khổ não.

一者。於現在生。多諸苦惱。

(Một là sanh nhiều khổ não ngay trong đời này)


 

Vì sao hý luận có lắm khổ não? Thánh nhân Trung Quốc cũng hiểu được việc này. Trong nền giáo dục của đức Khổng Phu Tử, điều thứ nhất trong bốn khoa là đức hạnh, điều thứ hai là ngôn ngữ, quý vị mới thấy ngôn ngữ trọng yếu. Nói năng chẳng cẩn thận sẽ biến thành hý luận, hý luận mang đến vô biên khổ não cho quý vị!


 

Chánh kinh:

Nhị giả, tăng trưởng sân khuể, thoái thất nhẫn nhục.

二者。增長瞋恚。退失忍辱。

(Hai là tăng trưởng nóng giận, lui sụt nhẫn nhục)


 

Đây đều là những lỗi hại của hý luận.


 

Chánh kinh:

Tam giả, vị chư oán đối chi sở não hại.

三者。為諸怨對。之所惱害。

(Ba là bị các oán đối não hại)


 

“Não” (惱) là bị những người quý vị trót đắc tội, những người mà quý vị đã trót xúc phạm, họ đến hãm hại quý vị, khiến quý vị sanh phiền não.


 

Chánh kinh:

Tứ giả, ma cập ma dân giai sanh hoan hỷ.

四者。魔及魔民。皆生歡喜。

(Bốn là ma và dân ma đều sanh hoan hỷ)


 

Phật, Bồ Tát trông thấy chẳng hoan hỷ, yêu ma, quỷ quái trông thấy rất hoan hỷ, vì sao thế? Yêu ma, quỷ quái ưa thích hý luận, quý vị là đồng loại của chúng.


 

Chánh kinh:

Ngũ giả, vị sanh thiện căn giai tất bất sanh.

五者。未生善根。皆悉不生。

(Năm là thiện căn chưa sanh thảy đều chẳng sanh)


 

Điều này dễ hiểu.


 

Chánh kinh:

Lục giả, dĩ sanh thiện căn năng linh thoái thất.

六者。已生善根。能令退失。

(Sáu là thiện căn đã sanh có thể bị thoái thất)


 

Hết thảy thiện pháp đều sanh từ đó nên gọi là “thiện căn”. Trong kinh, Phật dạy chúng ta thế pháp thiện căn có ba loại: vô tham, vô sân, vô si. Đó gọi là ba thiện căn, các thiện pháp thế gian đều sanh từ đó. Thiện pháp xuất thế gian là tinh tấn. Quý vị phải nhớ kỹ: Tinh (精) là thuần nhất không tạp, Tấn (進) là tiến bộ; đấy là thiện căn sanh ra thiện pháp xuất thế. Hiện giờ, chúng ta thấy có người cũng siêng năng, dũng mãnh, nhưng chẳng tinh tấn mà là tạp tấn, họ rối tung tít mù, bạ cái gì cũng học, loạn tấn, tạp tấn, chẳng phải là [tinh tấn] như kinh Phật nói.

Tinh tấn nói trong kinh Phật là thâm nhập một môn. Dù trí huệ đã mở, chứng đắc quả vị Bồ Tát sâu xa, biểu hiện bên ngoài của các Ngài vẫn là tinh tấn; các vị đọc kinh Hoa Nghiêm sẽ thấy ngay. Quý vị xem năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, năm mươi ba vị thiện tri thức đều là Pháp Thân đại sĩ, trong đó có rất nhiều vị Đẳng Giác Bồ Tát, biểu hiện của các Ngài đều là “một môn tinh tấn”. Thiện Tài đồng tử đến tham phỏng, các Ngài tự nói trong vô lượng pháp môn, ta chỉ chọn lấy một pháp môn để tu học, còn các pháp môn khác thì họ nói: “Ta còn chưa biết, ngươi nên đi hỏi người khác”. Tự mình khiêm hư, khen ngợi người khác vậy! Họ biểu hiện tinh tấn, chẳng phải là tạp tấn, loạn tấn. Bồ Tát ở địa vị sâu còn như thế, huống hồ là bọn sơ học chúng ta.

Tứ Hoằng Thệ Nguyện nói chẳng lầm đâu, chỉ sợ mọi người hiểu lầm. “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, xem đến đây bèn vội học hết thảy pháp môn cùng một lúc. Quý vị cứ tưởng mình y giáo phụng hành, thật ra là lầm to. Vì sao vậy? Trước đó có hai điều kiện, quý vị đã làm được hay chưa? “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”, quý vị đã phát được tâm nguyện ấy chưa?

Ngày ngày niệm bốn câu kệ, chỉ là miệng có, tâm không. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” mỗi ngày đều niệm, ở trước Phật, Bồ Tát phát nguyện ấy, nhưng thấy chúng sanh này thì chán ngán, thấy chúng sanh kia bèn ghét bỏ! Vậy thì phía sau lời nguyện “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” phải chua thêm: Tôi chẳng độ kẻ này, tôi chẳng độ kẻ nọ. Quý vị có làm như vậy hay là không? “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”, đoạn được một điều phiền não nào chưa? Bởi thế, quý vị phải có nguyện tâm chân thật, đoạn hết phiền não rồi mới có thể học vô lượng pháp môn, đó là giai đoạn thứ ba vậy.

Phiền não chưa đoạn, học chi lắm pháp môn! Trong Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao, ngài Thanh Lương đại sư viết hai câu rất hay: “Hữu giải vô hành” (có hiểu biết nhưng không thực hành), quý vị học cho nhiều, nhưng chẳng tu hành, chẳng đoạn phiền não. Trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện, quý vị có “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, nhưng không đoạn phiền não, kết quả sẽ là gì? “Tăng trưởng tà kiến”, quý vị càng học cho nhiều, tà kiến càng nhiều. Đủ thấy Ngài giảng rất minh bạch vậy! Phật pháp chẳng quý ở chỗ nói cho nhiều, mà phải chân chánh phụng hành thì quý vị mới thật sự thụ dụng được.


 

Chánh kinh:

Thất giả, tăng chư đấu tránh, oán cạnh chi tâm.

七者。增諸鬥諍。怨競之心。

(Bảy là tăng thêm các tâm tranh giành, đua chen, oán ghét)


 

Người ưa thích hý luận, tâm hiếu thắng rất mạnh, có tâm hiếu thắng ắt sẽ sanh khởi tranh chấp, háo cường, đấu đá, bây giờ gọi là “cạnh tranh”.


 

Chánh kinh:

Bát giả, tạo tác địa ngục, ác thú chi nghiệp.

八者。造作地獄。惡趣之業。

(Tám là tạo tác nghiệp địa ngục, đường ác)


 

Khởi tâm động niệm, hết thảy tạo tác đều là ác nghiệp, vì sao vậy? Vì tương ứng với tham, sân, si. Tham, sân, si, mạn, nghi, ghen ghét là nghiệp nhân của ba đường ác.


 

Chánh kinh:

Cửu giả, đương đắc xú lậu, bất thiện chi quả.

九者。當得醜陋。不善之果。

(Chín là sẽ lãnh quả xấu xa, chẳng lành)


 

Nhân chẳng lành, đương nhiên quả chẳng lành.


 

Chánh kinh:

Thập giả, thiệt bất nhu nhuyễn, ngôn từ kiển sáp.

十者。舌不柔軟。言詞謇澀。

(Mười là lưỡi chẳng mềm mại, lời lẽ ngọng nghịu)


 

Nghĩa là nói năng khó khăn, đó là quả báo đấy! Là quả báo hiện tiền.


 

Chánh kinh:

Thập nhất giả, sở thọ giáo pháp bất năng ức trì.

十一者。所受教法。不能憶持。

(Mười một là chẳng thể nhớ giữ giáo pháp đã nhận lãnh)


 

Nói như bây giờ là hay quên! Trong Phật pháp gọi là “thất niệm”, tức là thường quên mất chánh niệm.


 

Chánh kinh:

Thập nhị giả, ư vị văn kinh, văn chi bất ngộ.

十二者。於未聞經。聞之不悟。

(Mười hai là đối với kinh chưa nghe, nghe cũng chẳng ngộ)


 

Đọc tụng, nghe giảng chẳng dễ gì khai ngộ.


 

Chánh kinh:

Thập tam giả, chư thiện tri thức giai tất xả ly.

十三者。諸善知識。皆悉捨離。

(Mười ba là các thiện tri thức thảy đều lìa bỏ)


 

Thiện tri thức vốn rất khó gặp, dù gặp đi nữa, vì chí thú chẳng tương đồng, quý vị cũng chẳng thể tiếp nhận lời thiện tri thức răn dạy, thiện tri thức cũng chẳng muốn dạy quý vị.


 

Chánh kinh:

Thập tứ giả, chư ác tri thức tốc đương trị ngộ.

十四者。諸惡知識。速當值遇。

(Mười bốn là sẽ chóng gặp gỡ các ác tri thức)


 

Là vì chí hướng phù hợp nhau, rất dễ kết thành bầy.


 

Chánh kinh:

Thập ngũ giả, tu hành ư đạo, nan đắc xuất ly.

十五者。修行於道。難得出離。

(Mười lăm là tu hành nơi đạo, khó được xuất ly)


 

Chữ “đạo” (道) chỉ Đại Thừa, Tiểu Thừa Phật pháp, bất luận tu một pháp môn nào, chẳng có cách nào để xuất tam giới.


 

Chánh kinh:

Thập lục giả, bất duyệt ý ngữ, sổ sổ thường văn.

十六者。不悅意語。數數常聞。

(Mười sáu là thường nghe những lời chẳng vừa ý)


 

Thường phải nghe những ngôn từ chẳng đẹp ý, cũng như là phải nghe người khác nói những lời khiến tâm mình rất khó chịu.


 

Chánh kinh:

Thập thất giả, tại tại sở sanh, đa chư nghi hoặc.

十七者。在在所生。多諸疑惑。

(Mười bảy là sanh ở đâu cũng lắm nỗi ngờ vực)


 

“Tại tại” là đời đời kiếp kiếp, phiền não lấp tâm, nghiệp chướng tập khí khiến cho quý vị hay đâm ra ngờ vực chánh pháp.


 

Chánh kinh:

Thập bát giả, thường sanh nạn xứ, bất văn chánh pháp.

十八者。常生難處。不聞正法。

(Mười tám là thường sanh chỗ nạn, chẳng nghe chánh pháp)


 

“Nạn” (難) là tam đồ bát nạn, chẳng nghe đến Phật pháp.


 

Chánh kinh:

Thập cửu giả, tu hành bạch pháp, đa hữu chướng ngại.

十九者。修行白法。多有障礙。

(Mười chín là tu hành bạch pháp có nhiều chướng ngại)


 

“Bạch pháp” là thiện pháp. Dẫu cho thiện căn hiện tiền, làm chút việc tốt cũng gặp chướng ngại.


 

Chánh kinh:

Nhị thập giả, ư sở thọ dụng, đa chư oán tật.

二十者。於所受用。多諸怨嫉。

(Hai mươi là với những thứ được thọ dụng, hay bị oán ghét)


 

Trong sanh hoạt tự thân, bất luận về mặt hưởng thụ vật chất hay tinh thần đều bị người khác ghen ghét, oán hờn, chuốc lấy những quả báo chẳng như ý.


 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị vị Bồ Tát đam trước hý luận nhị thập chủng quá.

彌勒。是為菩薩。耽著戲論。二十種過。

(Này Di Lặc! Đó là hai mươi lỗi của Bồ Tát đắm chấp hý luận)


 

/42
 

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây