Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký

Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký
發起菩薩殊勝志樂經講記
Chủ giảng: Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Chỉnh lý: Cư sĩ Truyền Tịnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

 

Chương 32: 8.5. Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán ngôn luận thế gian có hai mươi lỗi lớn

 

8.5.a. Trường hàng:


 

Phần dưới đây nói ngôn luận thế gian có hai mươi lỗi lớn, xin hãy xem kinh văn:


 

Chánh kinh:

Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

- Thế Tôn! Vân hà danh vi thế thoại trung quá, nhược quán sát thời, Bồ Tát ưng trụ quyết định chi nghĩa. Do quán thị nghĩa, bất sanh nhiệt não.

爾時。彌勒菩薩白佛言。世尊。云何名為。世話中過。若觀察時。菩薩應住。決定之義。由觀是義。不生熱惱。

(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là lỗi lầm của ngôn luận thế gian để khi Bồ Tát quán sát sẽ trụ vào nghĩa quyết định. Do quán nghĩa ấy, chẳng sanh nhiệt não).


 

Lời lẽ thỉnh pháp của Di Lặc Bồ Tát chẳng khó hiểu gì, chỉ e các vị đồng tu nghi hoặc chữ “quyết định nghĩa”. Chữ “quyết định nghĩa” trong câu “Bồ Tát ưng trụ quyết định nghĩa” chỉ sự lý chân thật. Kinh Bát Nhã giảng Thật Tướng của các pháp, hiện thời ta gọi [Thật Tướng] là chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Các vị ấy phải trụ, phải nên trụ trong chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Có thể tu học như thế thì mới chẳng sanh phiền não.


 

Chánh kinh:

Phật ngôn:

- Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát ưng đương quán sát thế thoại quá thất, hữu nhị thập chủng. Nhược quán sát thời, năng linh Bồ Tát trụ quyết định nghĩa; do quán thị nghĩa, bất sanh nhiệt não.

佛言彌勒。初業菩薩。應當觀察。世話過失。有二十種。若觀察時。能令菩薩。住決定義。由觀是義。不生熱惱。

(Phật dạy:

- Này Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát hãy nên quán sát ngôn luận thế gian có hai mươi thứ lầm lỗi. Như khi quán sát sẽ khiến cho Bồ Tát trụ trong nghĩa quyết định; do quán sát nghĩa ấy, chẳng sanh nhiệt não)


 

Đây là lời Phật đáp chung cho câu hỏi của Bồ Tát Di Lặc. Đích xác là có thể thực hiện được điều ấy, vấn đề là quý vị phải quán sát, đối với lỗi lầm của ngôn luận thế gian cũng như công đức lợi ích do lìa bỏ ngôn luận thế gian, quý vị phải quán sát thấu triệt, hiểu rõ, quý vị mới trụ được nơi “nghĩa quyết định”, tâm mới an trụ trong Thật Tướng các pháp, mới chẳng sanh phiền não.


 

Chánh kinh:

Di Lặc! Vân hà danh vi nhạo ư thế thoại nhị thập chủng quá?

彌勒。云何名為。樂於世話。二十種過。

(Di Lặc! Thế nào gọi là hai mươi lỗi do ưa thích ngôn luận thế gian?)


 

“Nhạo” (樂) là vui thích, yêu mến. Yêu thích ngôn luận thế gian có hai mươi lỗi, ở đây, đức Phật sẽ giảng cho chúng ta.


 

Chánh kinh:

Nhất giả, tâm sanh kiêu tứ, bất kính đa văn.

一者。心生憍恣。不敬多聞。

(Một là tâm sanh kiêu ngạo, phóng túng, chẳng kính đa văn)


 

Chữ “đa văn” chỉ người nghe nhiều Phật pháp; đối với người học rộng đa văn, họ chẳng hề tôn kính. Vì sao? Nói đơn giản, là vì họ biết pháp thế gian quá nhiều, nhân đấy bèn sanh tâm kiêu mạn, kiêu ngạo, ngạo nghễ, ngã mạn, dù hàng tỳ-kheo Bồ Tát xuất gia đọc kinh sách rất nhiều, họ vẫn coi thường, chẳng thèm để vào mắt - chẳng kính đa văn.


 

Chánh kinh:

Nhị giả, ư chư tránh luận, đa khởi chấp trước.

二者。於諸諍論。多起執著。

(Hai là, hay khởi chấp trước vào các tranh cãi)


 

Điều này từ xưa đến nay chẳng thể tránh khỏi, tranh chấp rất nhiều! Vì sao có tranh chấp? Vì thành kiến rất sâu.


 

Chánh kinh:

Tam giả, thất ư chánh niệm, như lý tác ý.

三者。失於正念。如理作意。

(Ba là đánh mất chánh niệm, suy nghĩ đúng lý)


 

Họ khởi tâm động niệm chẳng đúng lý, cũng chẳng như pháp. “Lý” (理) là chân tướng của nhân sanh vũ trụ, chẳng tương ưng với Lý nên gọi là “đánh mất chánh niệm”. Chẳng biết suy nghĩ đúng lý, họ khởi tâm động niệm toàn là sanh phiền não.


 

Chánh kinh:

Tứ giả, vi sở bất ưng thân đa tháo động.

四者。為所不應。身多躁動。

(Bốn là làm điều chẳng nên làm, thân hay tháo động)


 

“Vi” (為) là hành vi, là tạo tác, họ tạo tác những điều chẳng nên làm. Thế nào là những điều chẳng nên làm? Chẳng nên tạo nghiệp tam đồ đấy! Nói đơn giản là như trong nhà Phật thường nói: Chẳng nên làm mười ác nghiệp. “Thân hay tháo động”: Kẻ ấy cứ khăng khăng gây tạo.


 

Chánh kinh:

Ngũ giả, tốc tật cao hạ, hoại ư pháp nhẫn.

五者。速疾高下。壞於法忍。

(Năm là nhanh chóng cao thấp, hư hoại pháp nhẫn)


 

“Cao hạ” ở đây là tâm sanh phân biệt, tâm phân biệt rất mạnh nên sanh ý tưởng cao thấp. Pháp nhẫn chẳng có, chẳng thể nhẫn nại!


 

Chánh kinh:

Lục giả, tâm thường cang cường.

六者。心常剛強。

(Sáu là tâm thường ương ngạnh).


 

Tâm ương ngạnh này chướng ngại Thiền Định, chướng ngại trí huệ. Vì thế....


 

Chánh kinh:

Thiền Định trí huệ tằng bất huân tu. Thất giả, phi thời nhi ngữ, ngôn luận sở triền.

禪定智慧。曾不薰修。七者。非時而語。言論所纏。

(Thiền Định, trí huệ chưa từng huân tu. Bảy là nói chẳng đúng thời, bị ngôn luận ràng buộc)


 

“Phi thời”: Ngôn ngữ có thời tiết, nhân duyên. Vào một lúc nào đó, có những lời chẳng nên nói, họ cứ nói bừa, cứ nói hoài những lời ấy, nên gặp phải rất nhiều chướng nạn; như bây giờ ta thường nói là bị người khác phê bình, bị công kích. Chẳng nên nói những lời nói đấy. Nói năng là cả một nghệ thuật lớn, nhất định phải hiểu rõ thời tiết, nhân duyên. Nơi nào, lúc nào, lời nào chẳng thể nói. Kẻ kia ngu si, chẳng có trí huệ, chẳng nên nói mà cứ nói hoài! Vì thế, bị ngôn luận ràng buộc, tức là bị người khác công kích, phê bình vậy!


 

Chánh kinh:

Bát giả, bất năng kiên cố chứng ư thánh trí.

八者。不能堅固。証於聖智。

(Tám là chẳng thể kiên cố, chứng thánh trí)


 

Câu này nói về chứng quả. Đương nhiên đây chẳng phải là việc thuộc khả năng của họ rồi. Chẳng những không thể chứng quả vị sâu, mà quả vị cạn như Tu Đà Hoàn, họ cũng chẳng thể chứng được. Chẳng những không thể chứng thánh quả, nếu chúng ta quan sát kỹ thì công phu niệm Phật của những người ấy cũng chẳng thể thành một khối được! Nếu người niệm Phật thật sự niệm thành một khối, ắt sẽ nắm chắc vãng sanh. Vì vậy, kinh thường gọi [pháp môn Niệm Phật] là “đạo dễ hành” (dị hành đạo). “Dị” (易) là dễ dàng! So với những pháp môn khác thì pháp môn này dễ hơn, chứ thật ra, nó cũng chẳng dễ dàng chi! Nói dễ dàng là so với các pháp khác mà nói đấy!

Các pháp môn khác nhất định phải đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc, chứng đắc quả Tu Đà Hoàn mới tính là thành tựu. Người niệm Phật chúng ta, vãng sanh so ra dễ dàng hơn nhiều lắm. Niệm Phật cầu vãng sanh, tám mươi phẩm Hoặc chẳng cần phải đoạn một phẩm nào cả! Chẳng đoạn thì làm như thế nào? Quý vị cần phải có năng lực khống chế chúng nó, sự khống chế ấy gọi là “công phu thành phiến”. Khống chế dễ, đoạn mới khó! Cổ nhân đã ví von: “Khống chế” như lấy đá đè cỏ, “đoạn” là nhổ cả rễ, khó lắm!

Chúng ta dùng một câu Phật hiệu để chèn ép phiền não, một ý niệm vừa khởi lên, câu A Di Đà Phật liền đè chặt xuống, một ngày từ sáng đến tối hai mươi bốn tiếng đồng hồ chẳng cho tạp niệm khởi lên; nếu quý vị làm được như vậy sẽ nhờ đó mà vãng sanh. Chúng ta có thể đè giữ phiền não hay không? Phật hiệu chỉ niệm ở ngoài miệng, vọng niệm vẫn cứ khởi như thường thì vô ích, chẳng thể đè giữ được đâu! Chẳng thể dùng cách niệm như vậy để vãng sanh được đâu! Chúng ta phải biết điều này!


 

Chánh kinh:

Cửu giả, bất vị thiên, long chi sở cung kính.

九者。不為天龍。之所恭敬。

(Chín là chẳng được trời, rồng cung kính)


 

“Thiên long” chỉ hộ pháp thần. Hộ pháp thần chẳng giúp đỡ quý vị đâu à!


 

Chánh kinh:

Thập giả, vị biện tài giả thường hoài khinh tiện.

十者。為辯才者。常懷輕賤。

(Mười là bị kẻ biện tài thường ôm lòng khinh rẻ).


 

Nói thật ra, chẳng phải là người ta thật sự khinh rẻ quý vị đâu nhé; chỉ là người ta tránh xa quý vị, đối với quý vị họ kiềng mặt mà tránh xa! Thật đấy, chẳng phải giả đâu! Chữ “biện tài” chỉ người tu hành công phu đắc lực.


 

Chánh kinh:

Thập nhất giả, vị thân chứng giả chi sở ha trách.

十一者。為身証者。之所呵責。

(Mười một là bị người thật chứng quở trách)


 

Chữ “thân chứng” chỉ người thật sự chứng quả. Họ cũng có lúc quở trách quý vị.


 

Chánh kinh:

Thập nhị giả, bất trụ chánh tín, thường hoài hối hận.

十二者。不住正信。常懷悔恨。

(Mười hai là chẳng trụ chánh tín, thường ôm lòng hối hận)


 

Họ chẳng thể sanh khởi chánh tín, tín tâm do dự, có lúc tin, có lúc chẳng tin, vì thế họ thường hay sanh lòng hối hận.


 

Chánh kinh:

Thập tam giả, tâm đa nghi hoặc, dao động bất an.

十三者。心多疑惑。搖動不安。

(Mười ba là tâm hay ngờ vực, dao động chẳng yên)


 

Nguyên nhân đều là do tham đắm duyên thế gian.


 

Chánh kinh:

Thập tứ giả, do như xướng kỹ tùy trục âm thanh.

十四者。猶如倡妓。隨逐音聲。

(Mười bốn là giống như đào hát đuổi theo âm thanh).


 

“Xướng kỹ” là tỷ dụ tâm kẻ ấy bị cảnh chuyển. “Xướng kỹ” nói theo cách bây giờ là diễn viên sân khấu. Diễn viên phải nói theo kịch bản, chứ chẳng do ý mình, tự mình chẳng có chủ kiến gì; xướng ca, múa may mỗi động tác đều phải rập theo phách nhịp. Do người nghe chỉ huy, tự mình chẳng làm chủ được. Ý nghĩa của tỷ dụ này là như thế.


 

Chánh kinh:

Thập ngũ giả, nhiễm trước chư dục, tùy cảnh lưu chuyển.

十五者。染著諸欲。隨境流轉。

(Mười lăm là nhiễm đắm các dục, xoay chuyển theo cảnh)


 

Mê đắm ngũ dục, lục trần, nhất định tâm bị cảnh chuyển.


 

Chánh kinh:

Thập lục giả, bất quán chân thật, phỉ báng chánh pháp.

十六者。不觀真實。誹謗正法。

(Mười sáu là chẳng quán chân thật, phỉ báng chánh pháp)


 

Quen tu tập tà pháp, gặp chánh pháp chẳng phải là thứ mình quen thuộc, bèn chẳng thể tiếp nhận, xem chánh pháp như tà pháp, coi tà pháp là chánh pháp, việc này trong xã hội hiện tại chúng ta thường thấy rất nhiều.


 

Chánh kinh:

Thập thất giả, hữu sở hy cầu, thường bất xứng toại.

十七者。有所希求。常不稱遂。

(Mười bảy là có mong cầu chi thường chẳng được toại ý)


 

Trong nhà Phật thường nói: “Trong cửa Phật hữu cầu tất ứng”, mà họ chẳng cầu được! Tâm họ cầu chi cũng chẳng được như nguyện.


 

Chánh kinh:

Thập bát giả, kỳ tâm bất điều, vị nhân khí xả.

十八者。其心不調。為人棄舍。

(Mười tám là tâm họ chẳng điều phục, bị người khác vứt bỏ)


 

Bởi lẽ tâm họ lắm phiền não, lắm tri kiến - tức là lắm ý kiến, rất khó hòa đồng với đại chúng. Chẳng thể hòa hợp với đại chúng, đương nhiên họ sẽ bị các đoàn thể khai trừ.


 

Chánh kinh:

Thập cửu giả, bất tri pháp giới, tùy thuận ác hữu.

十九者。不知法界。隨順惡友。

(Mười chín là chẳng biết pháp giới, tùy thuận bạn ác)


 

Đối với những lý luận, sự thật của mười pháp giới, kẻ ấy đều chẳng biết gì, đó gọi là mê hoặc điên đảo đấy! Vì thế, kẻ ấy chẳng có tâm xuất ly, cũng chẳng biết phương pháp xuất ly. “Tùy thuận bạn ác”: Họ toàn giao du với kẻ ngu si, kẻ lười nhác, đều là bạn làm ác.


 

Chánh kinh:

Nhị thập giả, bất liễu chư căn, hệ thuộc phiền não.

二十者。不了諸根。繫屬煩惱。

(Hai mươi là các căn chẳng giải thoát, bị phụ thuộc chặt chẽ vào phiền não)


 

“Chư căn” chỉ chung sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mỗi một căn đều dính chặt với phiền não, chẳng có biện pháp nào để thoát khỏi phiền não. Cuộc sống như vậy khổ sở phi thường, quả báo đương nhiên chẳng thể tưởng tượng nổi.


 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị vi Bồ Tát nhạo ư thế thoại nhị thập chủng quá.

彌勒。是為菩薩。樂於世話。二十種過。

(Này Di Lặc! Đó là hai mươi lỗi do ưa thích ngôn luận thế gian của Bồ Tát)


 

Nói thật ra, ưa thích ngôn luận thế gian có vô lượng vô biên lầm lỗi Thế Tôn quy nạp vô lượng vô biên lầm lỗi ấy thành hai mươi loại lớn, nói đại lược cho chúng ta nghe.


 

/42
 

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây