Thái Thượng Cảm Ứng Thiên là một quyển sách khuyến thiện đệ nhất trong kho tàng kinh điển của Đạo gia, được Ấn Quang Đại Sư hết sức tán thán. Ấn Quang Đại Sư một đời cung kính ấn tống “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” ước khoảng có hơn ba triệu bản. Hơn nữa Lý Bỉnh Nam cư sĩ, Tịnh Không Lão Pháp Sư cũng đều khích lệ thế nhân “Khuyến đọc, khuyến hành, khuyến in, khuyến giảng”. Quyển sách này cùng với Đệ Tử Quy, Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh là ba căn bản của Nho-Thích-Đạo, bất luận là ai cũng phải từ ba căn bản này mà học tập vun bồi cọi rễ, như thế mới có thể đạt được thành tựu chân thật trong một đời.
CHƯƠNG 8 CHỈ VI (CHỈ RA Ý NGHĨA TINH THÂM VI DIỆU) 夫心起於善, 善雖未為而吉神已隨之. 或心起於惡, 惡雖未為而凶神已隨之. Phù tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi nhi cát thần dĩ tùy chi. Hoặc tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi nhi hung thần dĩ tùy chi. Tâm vừa khởi niệm thiện Dù việc vẫn chưa làm Thần Kiết Tường đã thấy Bảo hộ ở kề bên. Vừa chớm khởi niệm ác Dù việc ác chưa làm Hung thần đã theo bên Họa hại sẽ liền đến. CHƯƠNG 9: SÁM HỐI TỘI LỖI 其有曾行惡事, 後自改悔, 諸惡莫作, 眾善奉行, 久久必獲吉慶, 所謂轉禍為福也. Kỳ hữu tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, cửu cửu tất hoạch cát khánh, sở vị chuyển họa vi phúc dã. Từng làm việc sai trái Sau biết tự ăn năn Không còn gieo nhân ác Thiện hạnh ngày mỗi tăng. Lâu dần việc thiện nhỏ Sẽ chứa đầy chum to Việc cát tường như ý Ắt sẽ đến không lo. Họa chuyển dần thành phúc Từ sám hối mà ra. CHƯƠNG 10: GIỚI ĐỊNH 故吉人語善, 視善, 行善, 一日有三善, 三年天必降之福. 凶人語惡, 視惡, 行惡, 一日行三惡, 三年天必降之禍. 胡不勉而行之. Cố cát nhân ngữ thiện, thị thiện, hành thiện, nhất nhật hữu tam thiện, tam niên thiên tất giáng chi phúc. Hung nhân ngữ ác, thị ác, hành ác, nhất nhật hành tam ác, tam niên thiên tất giáng chi họa. Hồ bất miễn nhi hành chi. Hiền nam tử, nữ nhân Mỗi ngày miệng, mắt, thân Đều là thiện không khác Ba năm như một ngày Trời sẽ ban phúc báu. Kẻ nói, nhìn, làm ác Trong thời gian ba năm Một ngày tạo ba nghiệp Trời sẽ giáng họa tai. Rõ ràng việc họa phúc Do chính mình gây nên Thấu rõ đạo lý trên Nên hành Thiên Cảm Ứng. [1] Bất tiếu: hư hỏng, đáng chê trách. [2] Chuyện thị phi: chuyện phải quấy [3] Ngũ Lạp bao gồm: Ngày mồng Một tháng Giêng gọi Thiên Lạp, mồng Năm tháng Năm là Địa Lạp (tiết Đoan Ngọ), mồng Bảy tháng Bảy là Đạo Đức Lạp, mồng Một tháng Mười là Tuế Lạp (Dân Tuế Lạp), mồng Tám tháng Chạp là Hầu Vương (Vương Hầu) Lạp. [4] Bát tiết là những ngày lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập thu, thu phân, lập đông, đông chí. [5] Ý nói nhân quả công bằng, tơ hào chẳng sai. Nửa cân của người xưa tương đương với 8 lạng (một cân là 16 lạng). Cẩn dịch: Ban Biên Dịch Tịnh Không Pháp Ngữ. Ý kiến bạn đọc