Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng Ký
發起菩薩殊勝志樂經講記
Chủ giảng: Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Chỉnh lý: Cư sĩ Truyền Tịnh
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
8.7.b. Trùng tụng Chánh kinh: Nhĩ thời, Thế Tôn trùng thuyết kệ ngôn: 爾時世尊。重說偈言。 (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn dùng kệ nhắc lại) Đoạn kinh văn này là lời khai thị rất trọng yếu, đối với người học Phật chúng ta hiện thời, bất luận tại gia hay xuất gia, đều là thuốc đặc hiệu cứu mạng đấy nhé! Bởi thế, sau mỗi phần trường hàng Phật đều có phần kệ tụng, ngoài việc lập lại ý nghĩa của phần trường hàng, kệ tụng còn có phần bổ sung ý nghĩa. Chúng ta chẳng thể đọc thuộc kinh thì kệ tụng rất tiện để đọc thuộc, thời thời khắc khắc đề khởi công phu quán chiếu sẽ biết mình khởi tâm động niệm, việc làm, hành vi có đúng pháp hay không. Như trong kinh Pháp Tượng, đức Phật dạy chúng ta nên làm điều gì, chẳng nên làm điều gì. Phật dạy chúng ta nên làm điều gì, ta nên tích cực nỗ lực thực hiện; Phật dạy chúng ta không nên làm điều gì, ta chẳng làm, đó là như pháp. Phật dạy chúng ta đừng làm điều gì, ta cứ khăng khăng làm, dạy ta nên làm điều gì, ta cứ lười nhác, biếng trễ chẳng chịu làm, thế là chẳng như pháp. Xin hãy xem đoạn kinh văn dưới đây: Chánh kinh: An trụ hạ liệt nghiệp. 安住下劣業。 (An trụ nghiệp kém hèn) Tâm quý vị an trụ trong thế pháp, chẳng những là sự nghiệp thế gian mà còn là sự nghiệp thế gian hèn kém. Đó là những sự nghiệp tăng trưởng tham, sân, si, mạn, ghen ghét. Chánh kinh: Viễn ly thù thắng hạnh. 遠離殊勝行。 (Xa lìa hạnh thù thắng) “Hạnh thù thắng”: Có thể nói hết thảy Phật pháp Đại Thừa đều là hạnh thù thắng, nhưng bản kinh này tối hậu quy kết Tịnh Độ, bởi bản kinh này hiển nhiên quy kết Tịnh Độ nên ta có thể hiểu hạnh thù thắng là tu Tịnh Độ, cũng có thể hiểu là nhất tâm cầu sanh Tịnh Độ. Kẻ kia xem thường, xa lìa việc này, thật đáng tiếc thay! Chánh kinh: Thoái thất đại lợi ích. 退失大利益。 (Lui sụt, đánh mất lợi ích lớn) “Đại lợi ích” là vãng sanh bất thoái thành Phật đấy! Đấy là đại lợi ích chân thật, hết thảy lợi ích thế gian hay xuất thế gian đều chẳng sánh bằng được, đủ thấy “đắm trước các việc” tạo lầm lỗi nghiêm trọng đến thế. Chánh kinh: Nhạo độc tụng tỳ-kheo, Cập tu thiền định giả, Nhất thiết giai ha trách, Thị danh chúng vụ quá. 樂讀誦比丘。 及修禪定者。 一切皆呵責。 是名眾務過。 (Tỳ-kheo thích đọc tụng, Và người tu Thiền Định, Hết thảy đều quở trách, Đó gọi lỗi các việc) Câu đầu chỉ những người đã hiểu trọn lời răn dạy, chữ “tu Thiền Định” chỉ những người y giáo thật sự tu hành. Chữ “Thiền Định” ở đây không nhất định chỉ là người tu Thiền, mà là nói về những người chân chánh tu hành, phải hiểu theo nghĩa rộng, đừng hiểu nghĩa hẹp. Tu trì Phật pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn, trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện chúng ta thường nói là “vô lượng pháp môn”. Dẫu vô lượng hay tám vạn bốn ngàn pháp môn thì cũng chỉ là phương pháp, cách thức chẳng giống nhau. Tu điều gì? Tất cả đều là tu Giới, Định, Huệ; nhưng trong Tam Học Giới - Định - Huệ, Định là mấu chốt, Giới là biện pháp với mục đích nhằm đắc Định, đắc Định sẽ tự nhiên khai trí huệ. Bởi thế, tám vạn bốn ngàn pháp môn là các biện pháp, phương pháp bất đồng, ngõ hầu tu cho đắc Định. “Thiền Định” ở đây được dùng với nghĩa rộng, chẳng phải theo nghĩa hẹp. Chúng ta niệm Phật cũng là tu Thiền Định. Trong kinh Đại Tập, đức Phật nói rất rõ ràng: “Niệm Phật là vô thượng thâm diệu Thiền”. Chúng ta dùng phương pháp Niệm Phật này niệm đến nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn là Thiền Định. Bởi thế câu này nghĩa là: Người chân chánh y giáo tu hành, bọn họ đối với quý vị (là những người ham lo liệu việc đời) sẽ kính nhi viễn chi! Chánh kinh: Thường hành sanh tử nghiệp, Xả ly giải thoát nhân, Hư thọ ư tín thí, Thị danh chúng vụ quá. 常行生死業。 捨離解脫因。 虛受於信施。 是名眾務過。 (Thường hành nghiệp sanh tử, Bỏ lìa nhân giải thoát, Luống nhận của tín thí, Đó gọi lỗi các việc) “Thường hành”: Quý vị thường làm những điều gì? “Nghiệp sanh tử” tức là sự nghiệp luân hồi lục đạo. Thế nào là sự nghiệp sanh tử, luân hồi? Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Trong Duy Thức Học, chúng là sáu căn bản phiền não, hết thảy sự nghiệp nào tương ứng với sáu căn bản phiền não ấy thì đều là sự nghiệp luân hồi sanh tử. Quý vị làm những sự nghiệp ấy, đương nhiên đánh mất cái nhân giải thoát, “bỏ lìa nhân giải thoát”. Nhân giải thoát là Giới, Định, Huệ. “Luống nhận của tín thí”, quý vị tiếp nhận những đồ cúng dường, tương lai phải trả nợ, bởi quý vị chẳng phải là phước điền chân chánh mà! Chánh kinh: Nhạo thọ chư tài bảo, Bất đắc sanh ưu não, Trụ ư hạ liệt hạnh, Thị danh chúng vụ quá. 樂受諸財寶。 不得生憂惱。 住於下劣行。 是名眾務過。 (Thích nhận các của cải, Chẳng được, sanh buồn khổ, Trụ trong hạnh kém hèn, Đó gọi lỗi các việc) Tham ái của cải thế gian, lúc được bèn hoan hỷ, kiêu ngạo; lúc không đưọc, bèn nổi nóng, ưu não. Thứ tâm lý, tư tưởng, hành vi ấy đều là hạnh kém hèn. Hạnh kém hèn ấy là nghiệp sanh tử, là hạnh tam đồ lục đạo. Chánh kinh: Thị nhân đa ái nhiễm, Vãng lai dâm nữ gia, Như điểu nhập phiền lung, Thị danh chúng vụ quá. 是人多愛染。 往來婬女家。 如鳥入樊籠。 是名眾務過。 (Người ấy nhiều ái nhiễm, Tới lui nhà gái dâm, Như chim vào lồng rọ, Đó gọi lỗi các việc) Bài kệ này nêu tỷ dụ. Câu thứ nhất ý nói người ấy nhiều ái nhiễm, người ấy bị tham ái ô nhiễm tâm tánh, tức là: Trong tâm có phiền não tham, sân, si, mạn, những phiền não bên trong rất nặng. Câu “tới lui nhà gái dâm” ý nói bên ngoài những sự quyến rũ, mê hoặc. Trong có phiền não, ngoài có dụ hoặc, làm sao chẳng đọa lạc cho được? Khác nào chim bị nhốt trong lồng. “Như chim vào lồng rọ” là tỷ dụ đọa ác đạo, là bị lôi vào trong ba ác đạo. Chánh kinh: Thường ưu thán gia nghiệp, Hằng hoài nhiệt não tâm, Xuất ngôn nhân bất tín, Thị danh chúng vụ quá. 常憂嘆家業。 恆懷熱惱心。 出言人不信。 是名眾務過。 (Thường buồn than gia nghiệp, Luôn ôm lòng nhiệt não, Nói ra, chẳng ai tin, Đó gọi lỗi các việc) Chuyện họ thường âu lo là gia nghiệp. Thế pháp, xuất thế pháp đều là gia nghiệp, nhất là trong các đạo tràng hiện tại. Thời xưa, có không ít đạo tràng được gọi là “thập phương đạo tràng”, chẳng thuộc về một ai hết; chỉ cần là người xuất gia đúng quy củ, đều có thể quải đơn[3] đều có thể cùng ở lại tu chung. Trong những đạo tràng hiện thời, người xuất gia đều có bằng khoán chủ quyền, đều biến thành gia nghiệp. Đã là người xuất gia rồi thì trong tay chẳng có bằng khoán chủ quyền nào, vì xuất gia rồi, không còn nhà nữa! Người có một tờ bằng khoán sẽ trở thành “nhập gia”, chẳng thể không nhận biết điều này! Thật ra, quý vị không đọc kinh sẽ chẳng hiểu ra tầm nghiêm trọng của vấn đề này, chẳng biết trong tương lai họa hại thảm khốc đâu nhé! Trong kinh, đức Phật chẳng lừa dối chúng ta! Tôi đã bảy mươi tuổi, sẽ chết rất lẹ, bởi thế tôi toàn nói lời thật cùng quý vị, tôi thời thời khắc khắc đều chuẩn bị ra đi. Bởi thế, tôi chẳng phải là người thuộc thế gian này nữa; tôi thấy thế gian này khá rõ ràng, vì là người ngoài cuộc mà! Thế gian này đối với tôi chẳng có lợi hay hại gì, đúng như câu nói: “Bàng quán giả thanh, đương cục giả mê” (Người ngoài thì sáng, người trong thì quáng). Học Phật phải siêu xuất, vượt thoát thế giới này, thế giới này chẳng liên quan gì đến tôi, chẳng còn việc gì nữa, rõ ràng là cách nhìn của tôi khác với cách nhìn của quý vị. Ở đây, kinh nói: Người trong tâm thường có phiền não thì nói ra điều gì cũng chẳng ai tin! Chánh kinh: Bất thọ tôn giả giáo, Vi củ, nhi khinh tiện, Hủy phạm thanh tịnh giới, Thị danh chúng vụ quá. 不受尊者教。 違矩而輕賤。 毀犯清淨戒。 是名眾務過。 (Chẳng nghe tôn trưởng răn, Trái phép tắc, khinh rẻ, Hủy phạm giới thanh tịnh, Đó gọi lỗi các việc) Thiện tri thức, Bồ Tát dạy răn chẳng thể tiếp nhận, chẳng thể y giáo phụng hành. “Vi củ” là phạm quy củ, “hủy phạm” là phạm giới. Đối với pháp thế gian hay pháp xuất thế đều nghĩ cách luồn lách chiếm lợi thế, tránh né, chẳng tuân thủ, đều là lầm lạc cả, đều là các lầm lỗi do [ham thích lo liệu] các việc phát sanh. Chánh kinh: Kỳ tâm đa ức tưởng, Cần doanh ư thế nghiệp, Bất năng tu trí đoạn, Thị danh chúng vụ quá. 其心多憶想。 勤營於世業。 不能修智斷。 是名眾務過。 (Tâm họ lắm nhớ tưởng, Siêng lo việc thế gian, Chẳng thể tu trí đoạn, Đó gọi lỗi các việc) Tâm kẻ ấy vọng tưởng quá nhiều, luôn nghĩ đến những lợi hại được mất trong sự nghiệp kinh doanh; bởi thế, kẻ ấy “chẳng thể tu trí đoạn”. Trí (智) là trí huệ, phá được vô minh; Đoạn (斷) là tu Định, đoạn được phiền não. Tức là nói bất luận tu học một pháp môn nào, công phu cũng chẳng đắc lực, chẳng thể thành tựu. Chánh kinh: Tham tâm hằng xí thạnh. 貪心恆熾盛。 (Tâm tham luôn hừng hực) “Hằng” (恆) là thường hằng. Tâm tham ngày càng tăng trưởng. Chánh kinh: Nhạo trước ư chư vị. 樂著於諸味。 (Ưa chấp nơi các vị) Hưởng thụ ngũ dục, lục trần thế gian, kẻ ấy thường tham đắm những vị ấy. Chánh kinh: Tằng vô tri túc tâm. 曾無知足心。 (Tâm chưa hề biết đủ) Vĩnh viễn chẳng chán đủ, quý vị mới thấy con người như vậy sống khổ sở quá đỗi! Nhọc nhằn, bươn bả đến lúc chết, chẳng đem theo được gì, đúng là “muôn thứ đều bỏ sạch, chỉ có nghiệp tùy thân”! Chánh kinh: Đắc lợi sanh hoan hỷ, Vô lợi tiện ưu não, Tham lận vô nhân tâm, Thị danh chúng vụ quá. 得利生歡喜。 無利便憂惱。 貪吝無仁心。 是名眾務過。 (Được lợi, lòng vui mừng, Chẳng lợi, bèn sầu khổ, Tham keo, thiếu lòng nhân, Đó gọi lỗi các việc) “Nhân” (仁) là nhân từ, tức là tâm từ bi. Chẳng có tâm từ bi! Chánh kinh: Não hại vô từ mẫn. 惱害無慈愍。 (Não hại chẳng xót thương) Đối với hết thảy chúng sanh, kẻ ấy chỉ tham keo, đoạt lấy lợi ích của hết thảy mọi người để tự mình hưởng thụ, nào có từ bi, thương xót chúng sanh chi đâu! Chánh kinh: Tăng trưởng chư ác nghiệp, Ái mạn tương triền phược, Thị danh chúng vụ quá. 增長諸惡業。 愛蔓相纏縛。 是名眾務過。 (Tăng trưởng các nghiệp ác, Bị dây ái buộc ràng, Đó gọi lỗi các việc) “Ái” (愛) là tham ái, tức là phiền não. Tham, sân, si, mạn buộc ràng kẻ ấy. Chánh kinh: Viễn ly ư sư trưởng, Thân cận ác tri thức, Tẫn xích trì giới nhân, Thị danh chúng vụ quá. 遠離於師長。 親近惡知識。 擯斥持戒人。 是名眾務過。 (Xa lìa bậc sư trưởng, Thân cận ác tri thức, Đuổi, chê người trì giới, Đó gọi lỗi các việc) Kẻ ấy xa lìa thiện tri thức, thầy tốt, là vì sao? Chí thú chẳng phù hợp. Họ thích thân cận “ác tri thức” vì lẽ gì? Ác tri thức dạy họ làm sao đạt được danh văn, lợi dưỡng, làm sao tạo tham, sân, si, những kẻ đó chí đồng đạo hợp với họ. Người trì giới chẳng xứng hợp với chuyện kẻ ấy tu, kẻ ấy học; lẽ đương nhiên bị kẻ ấy bài xích. Chánh kinh: Trú dạ vô dư tưởng, Duy niệm cầu y thực, Bất nhạo chư công đức, Thị danh chúng vụ quá. 晝夜無餘想。 唯念求衣食。 不樂諸功德。 是名眾務過。 (Ngày đêm chẳng nghĩ khác, Chỉ mong được cơm áo, Chẳng ưa các công đức, Đó gọi lỗi các việc) Bài kệ này ý nghĩa dễ hiểu. Chánh kinh: Thường vấn thế gian trí, Bất nhạo xuất thế ngôn, Đam ái ư tà thuyết, Thị danh chúng vụ quá. 常問世間智。 不樂出世言。 耽愛於邪說。 是名眾務過。 (Thường hỏi trí thế gian, Chẳng ưa lời xuất thế, Yêu đắm các tà thuyết, Đó gọi lỗi các việc) Những ngôn luận thường ngày đều là chuyện thế gian, chẳng mảy may dính dáng gì đến liễu sanh tử, xuất tam giới. Họ ưa thích những tà thuyết. Chánh kinh: Tự thị tri chúng vụ, Khinh mạn chư tỳ-kheo, Do như cuồng túy nhân, Thị danh chúng vụ quá. 自恃知眾務。 輕慢諸比丘。 猶如狂醉人。 是名眾務過。 (Tự ỷ biết các việc, Khinh mạn các tỳ-kheo, Khác nào kẻ say cuồng, Đó gọi lỗi các việc) Cậy vào kỹ năng, năng lực làm việc của chính mình, nói như bây giờ là năng lực làm việc rất cao! Trên phương diện sự nghiệp, người ấy đích thực có thành tựu hơn người, họ cậy vào đó, nẩy sanh lòng kiêu mạn, coi thường những người tu hành. Câu tiếp đó là tỷ dụ “giống như người say cuồng”. Chánh kinh: Thường ty cầu tha đoản, Bất tự kiến kỳ quá, Khinh hủy hữu đức nhân, Thị danh chúng vụ quá. 常伺求他短。 不自見其過。 輕毀有德人。 是名眾務過。 (Thường bới tìm lỗi người, Chẳng tự thấy lỗi mình, Khinh hủy người có đức, Đó gọi lỗi các việc) “Chẳng tự thấy”: Chẳng tự thấy lỗi mình, chuyên môn vạch tìm lỗi người khác. Chánh kinh: Như thị ngu si giả, Vô hữu thiện phương tiện, Khinh mạn thuyết pháp giả, Thị danh chúng vụ quá. 如是愚癡者。 無有善方便。 輕慢說法者。 是名眾務過。 (Kẻ ngu si như thế, Chẳng có phương tiện khéo, Khinh mạn người thuyết pháp, Đó gọi lỗi các việc) Khinh thị người tu hành, coi rẻ người thuyết pháp. Ngay trong phần mở đầu kinh này, đức Phật đã nói: Hạng Bồ Tát ngu si, khinh mạn, phỉ báng hai vị tỳ-kheo thuyết pháp, kết quả là vướng tội nghiệp đọa trong địa ngục A-Tỳ, địa ngục Đẳng Hoạt, địa ngục Thiêu Nhiệt, tính theo thời gian trong cõi người là một ngàn tám trăm vạn năm. Bởi thế, tạo tác tội nghiệp rất dễ dàng, phỉ báng chỉ mấy ngày, mấy giờ, nhưng trong tương lai, thời gian phải chịu khổ trong địa ngục dài như thế đó. Quý vị phải hiểu: Trong kinh đức Phật nói một ngàn tám trăm vạn năm là thời gian trong cõi người chúng ta, nhưng người thọ tội trong địa ngục cảm thấy như là vô lượng kiếp vậy! Trong ngạn ngữ cũng thường nói: “Ngày dài như cả năm”. Xem ra, thời gian tựa hồ chẳng dài lắm, một ngàn tám trăm vạn năm, nhưng kẻ ấy cảm nhận giống như vô lượng kiếp. Bởi thế, đừng có tạo tội nghiệp! Cũng đừng có nghĩ là chẳng qua đức Phật dọa dẫm chúng ta, mong chúng ta đừng tạo tội. Chẳng có chuyện như vậy đâu! Lầm rồi đấy! Tương lai, quý vị đọa lạc, đúng là tự mình làm, tự mình chịu. Đức Phật thật sự từ bi, nói ra chân tướng sự thật cho chúng ta biết, quý vị vẫn chẳng tin, vẫn muốn tạo tác, còn trách ai nữa đây? Đọa địa ngục A Tỳ thì Phật cũng chẳng thể cứu nổi đâu nghe! Chánh kinh: Như thị hạ liệt nghiệp, Cụ túc chư quá thất, Hà hữu trí huệ nhân, Ái nhạo nhi tu tập? 如是下劣業。 具足諸過失。 何有智慧人。 愛樂而修習。 (Nghiệp kém hèn như thế, Đầy đủ các lầm lỗi, Có người trí huệ nào, Lại ưa thích tu tập?) Hai câu đầu tổng kết những điều đã nói, nói chung đều là nghiệp hèn kém, đều là vô lượng vô biên tội lỗi. Có người trí huệ nào lại ưa thích những việc ấy, chịu làm những việc ấy chăng? Chánh kinh: Thanh tịnh thù thắng nghiệp, Cụ túc chư công đức, 清淨殊勝業。 具足諸功德。 是故有智人。 愛樂常修習。 (Nghiệp thanh tịnh thù thắng, Đầy đủ các công đức) “Thanh tịnh thù thắng”: Nếu quý vị chẳng chú tâm thấu hiểu, quý vị sẽ chẳng đạt được. Nếu quý vị tu hành đúng pháp, quý vị sẽ đạt được. Hai ngày trước có một vị đồng tu ở Hương Cảng – trong những năm đầu, tôi giảng kinh ở Hương Cảng, bà ta là một trong số thính chúng – hôm trước đến đây gặp Quán Trưởng, chúng tôi vừa nhìn đã biết bà ta tu hành khá lắm, tướng mạo bà biến chuyển rất tốt, tu hành thật sự có chút thành tích. Thành tích là gì? Thành tích nơi dáng vẻ; thể chất khỏe mạnh, tướng mạo chuyển biến, dung mạo tươi sáng, đó là biểu hiện tu hạnh bên ngoài của quý vị, người ta thoạt trông biết liền, người như thế rất khó có. Khi đó, tôi giảng kinh, đề xướng người thật sự tu hành phải tu tâm thanh tịnh. Muốn thật sự tu tâm thanh tịnh, tốt nhất là báo chí, tạp chí, truyền hình, radio đều tránh xa. Bà ta thật sự nghe theo, gần mười một, mười hai năm chưa từng xem qua báo chí, truyền hình, bà ta rất là vui sướng. Bả nói: “Cái gì tôi cũng không biết, mỗi một ngày thiên hạ thái bình, vui vẻ, sung sướng, cái gì cũng chẳng biết”. Bả nói: “Hương Cảng xảy ra chuyện gì đến hỏi tôi, tôi chẳng biết gì”. Bả chỉ biết mỗi một việc niệm A Di Đà Phật, mỗi một ngày sống rất sung sướng, chuyện gì cũng chẳng có, do đó, tâm bà ta được thanh tịnh. Bởi vậy, báo chí, tạp chí, truyền hình hại chết người đó nghe! Mỗi ngày quý vị xem chuyện này, chuyện nọ, tâm quý vị thanh tịnh sao nổi? Tránh sao khỏi suy nghĩ lung tung? Bởi thế, nếu thật sự nghĩ muốn cầu “thanh tịnh thù thắng” – “thù thắng” là niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật – quý vị phải hạ tâm quyết định: Trong một đời này ta nhất định phải thành tựu. Quý vị phải y giáo phụng hành đó nghe! Thời cổ, tự viện, am đường, đạo tràng đều dựng trong núi sâu, ở những nơi giao thông rất bất tiện hòng tránh khỏi những chướng ngại. Hiện tại, không thể được. Hiện thời, dù ở trên núi cao, máy truyền hình vẫn có thể nhận sóng. Thật phiền toái quá! Con người ngày càng khổ sở, càng ngày càng đáng thương! Hiện tại, hạnh phúc tuổi thơ đã mất rồi, trẻ nhỏ hằng ngày xem TV, mới sanh ra đã xem TV. Bởi thế, trẻ nhỏ mới bảy, tám tháng tuổi đã biết quan sát vẻ mặt, biết lấy lòng người lớn, tâm hài đồng mất tiêu, thiên chân mất tiêu, thật là đáng tiếc! Như vậy thì con người làm sao tái lai cho được! Chẳng thể tái lai, khổ quá đi! Trong xã hội nông nghiệp trước kia, thời kỳ đồng niên thiên chân (tánh hồn nhiên của trẻ thơ) đại khái giữ được đến mười lăm, mười sáu tuổi, giữ được đến mười hai, mười ba tuổi rất thường. Mười hai, mười ba tuổi chẳng hiểu gì nhân tình thế sự. Đúng là một tấm lòng thành son sắt, một phiến thiên chân vậy! Trong xã hội hiện thời, chúng ta chẳng thể thấy [tình trạng như xưa] nữa. Xưa kia, đi học rất vui sướng. Hiện thời học hành rất khổ sở. Bởi thế, tôi thấy học sinh đi học đeo một cái cặp táp to, nghĩ chẳng muốn làm người nữa! Làm người, ôi chao! Phải đi học khổ quá, quyết định chẳng muốn tái lai. Trở lại thế gian này, nhất định phải thành Phật, thành Bồ Tát nương theo bổn nguyện tái sanh, chứ tái sanh vì nghiệp lực tái lai thì chẳng được rồi, đời người khổ quá chừng! Chánh kinh: Thị cố hữu trí nhân, Ái nhạo thường tu tập. 是故有智人。 愛樂常修習。 (Vì thế, người có trí, Yêu thích thường tu tập) Người thật sự có trí huệ, nhất định chọn niệm Phật vãng sanh bất thoái thành Phật, quyết định chọn tu tâm thanh tịnh. Điều trọng yếu là thấy thấu suốt, buông xuống. Thật sự thấy thấu suốt và buông xuống, quý vị sẽ được đại tự tại, quý vị mới đạt được hạnh phúc chân chánh. Bởi thế, chẳng buông xuống được là ngu si. Chánh kinh: Nhược nhạo hạ liệt nghiệp, Trí giả đương ha trách, Như nhân xả đa tài, Tham cầu ư thiểu phần, Thị cố minh trí nhân, Đương xả hạ liệt nghiệp, Ưng cầu thắng thượng pháp, Chư Phật thường xưng thán. 若樂下劣業。 智者當呵責。 如人捨多財。 貪求於少分。 是故明智人。 當捨下劣業。 應求勝上法。 諸佛常稱歎。 (Nếu thích nghiệp kém hèn, Bậc trí sẽ quở trách, Như người bỏ nhiều của, Tham cầu lấy chút phần, Vì thế, người trí sáng, Nên bỏ nghiệp hèn kém, Nên cầu pháp thắng thượng, Chư Phật thường khen ngợi) Hai bài kệ này, nửa trước bài kệ dễ hiểu, nửa sau bài kệ là tỷ dụ. Đổ hết tâm cơ kinh doanh sự nghiệp thế gian, được chẳng bù mất! Trong hiện tại ngay cả Phật pháp cũng bị đem vào sự nghiệp kinh doanh thế gian, đấy là hiện tượng rất phổ biến hiện thời. Dùng Phật pháp để kinh doanh sự nghiệp thế gian, hại chẳng bù nổi lợi. Bởi lẽ, được lợi một tí ti, tổn thất nói bất tận - tổn thất là tương lai gánh lấy quả báo; có đáng hay không? Bởi vậy người hiểu rõ, người có trí huệ nhất định buông bỏ, “ưng xả hạ liệt”: Xả (捨) là buông xuống, quyết định chẳng làm những chuyện ấy. Bách Trượng và Mã Tổ là những vị khai sáng tùng lâm Trung Quốc: “Mã Tổ dựng tùng lâm, Bách Trượng lập thanh quy”. Điều trọng yếu bậc nhất trong Thanh Quy là “tùng lâm coi vô sự là hưng thịnh”, câu nói này của Ngài hợp với đạo. Xuất gia tu hành là tu cái gì? Tu tâm thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh, hoàn cảnh thanh tịnh, đó mới là hưng thịnh. Cũng có nghĩa là đạo tràng này tương lai sẽ có bao nhiêu người khai ngộ, bao nhiêu người vãng sanh, bao nhiêu người chứng quả, đó mới là hưng thịnh, chứ chẳng phải do tín đồ đông đảo, hương đèn rộn rịp! Tín đồ càng đông, nhang đèn càng nhiều, nhưng chẳng có ai vãng sanh hết, ai nấy đều vào tam đồ, có kể là hưng thịnh được hay chăng? Quý vị phải hiểu điều này. Bởi thế, đạo tràng trọng chất, không trọng lượng, điều khẩn yếu là thật sự có người thành tựu. Hiện thời, đạo tràng nào có một, hai người thành tựu, thì đạo tràng ấy thật sự có công đức, thật sự là phước điền chân thật cho tín đồ. Nếu đạo tràng nào trong tương lai chẳng có một ai vãng sanh thì không được rồi, quả báo tương lai sẽ như đức Phật đã nói trong kinh này. Lại coi tiếp kinh văn. Chánh kinh: Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát nhi bạch Phật ngôn: - Hy hữu Thế Tôn! Bỉ chư Bồ Tát xả ly thù thắng tinh tấn chi nghiệp, nhi nãi phát khởi hạ liệt chi sự, đương tri thị nhân, thậm vi thiểu trí, giác huệ vi thiển. 爾時。彌勒菩薩。而白佛言。希有世尊。彼諸菩薩。捨離殊勝精進之業。而乃發起下劣之事。當知是人。甚為少智。覺慧微淺。 (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bèn bạch Phật rằng: - Đức Thế Tôn hy hữu! Các Bồ Tát ấy bỏ lìa nghiệp tinh tấn thù thắng, bèn phát khởi những sự hèn kém, phải biết là người ấy rất là ít trí, giác huệ ít cạn) Đây là Di Lặc Bồ Tát nghe đức Phật khai thị xong, lão nhân gia bèn nêu cảm tưởng. Ngài nói: Những Bồ Tát sơ nghiệp ngu si ấy, bỏ lỡ pháp môn tối thù thắng bậc nhất do chư Phật Như Lai truyền dạy, chẳng chịu tu học, lại đi làm những việc thế gian hèn kém, người như vậy đúng là thiếu trí huệ, đúng là “giác huệ ít cạn”, kẻ ấy chưa từng giác ngộ. Đến đây là hết đoạn tám. Ý kiến bạn đọc